1. RegoCare là thuốc gì?
Regorafenib là chất ức chế đa kinase diphenylurea đường uống nhắm vào các thụ thể tyrosine kinase sinh mạch (VEGFR1-3, TIE2), mô đệm (PDGFR-β, FGFR) và gây ung thư (KIT, RET và RAF). Regorafenib là chất ức chế đa kinase phân tử nhỏ đầu tiên đạt được lợi ích về khả năng sống sót ở bệnh ung thư đại trực tràng di căn đã tiến triển sau tất cả các liệu pháp tiêu chuẩn. Do đó, Regorafenib đã được FDA chấp thuận cho chỉ định này vào năm 2012. Ngoài ra, điều trị bằng Regorafenib đã dẫn đến sự cải thiện đáng kể về khả năng sống sót không tiến triển (PFS) so với giả dược ở những bệnh nhân bị u mô đệm đường tiêu hóa di căn (GIST) sau khi tiến triển trong các phương pháp điều trị tiêu chuẩn và cũng được FDA chấp thuận cho chỉ định này kể từ năm 2013. Năm 2017, Regorafenib đã được FDA chấp thuận để điều trị cho những bệnh nhân bị ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) tiến triển trước đó đã được điều trị bằng Sorafenib. Trong tình huống này, Regorafenib đã cải thiện đáng kể PFS và tỷ lệ sống sót chung (OS) so với giả dược. Regorafenib cũng đã được kiểm tra trong một số thử nghiệm lâm sàng (chủ yếu là giai đoạn II) ở các thực thể khối u khác nhau, bao gồm ung thư biểu mô tế bào thận (RCC), sarcoma mô mềm (STS) và các thử nghiệm giai đoạn II bổ sung đang diễn ra (ví dụ: điều trị tuyến hai và tuyến ba cho ung thư tuyến giáp thể tủy).
RegoCare là thuốc kê toa đường uống, chứa hoạt chất Regorafenib. Thành phần trong thuốc bao gồm:
- Hoạt chất: Regorafenib 40mg.
- Đóng gói: hộp 28 viên nén.
- Xuất xứ: Heet Health Care Ấn Độ.
2. Công dụng của thuốc RegoCare
2.1. Chỉ định thuốc
- Thuốc Regocare được chỉ định để điều trị cho những bệnh nhân ung thư đại tràng di căn (CRC) đã từng được điều trị bằng hóa trị liệu dựa trên fluoropyrimidine, oxaliplatin và irinotecan, liệu pháp kháng VEGF và nếu là loại RAS hoang dã, liệu pháp kháng EGFR.
- Thuốc được chỉ định để điều trị cho những bệnh nhân u mô đệm đường tiêu hóa (GIST) tiến triển tại chỗ, không thể cắt bỏ hoặc di căn đã từng được điều trị bằng imatinib mesylate và sunitinib malate.
- Thuốc cũng được chỉ định để điều trị cho những bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) đã từng được điều trị bằng sorafenib.
2.2. Cơ chế tác dụng của thuốc
Regorafenib là chất ức chế phân tử nhỏ của nhiều kinase liên kết màng và nội bào liên quan đến chức năng tế bào bình thường và trong các quá trình bệnh lý như quá trình hình thành ung thư, hình thành mạch máu khối u và duy trì vi môi trường khối u. Trong các xét nghiệm sinh hóa hoặc tế bào trong ống nghiệm, regorafenib hoặc các chất chuyển hóa hoạt động chính của con người là M-2 và M-5 đã ức chế hoạt động của RET, VEGFR1, VEGFR2, VEGFR3, KIT, PDGFR-alpha, PDGFR-beta, FGFR1, FGFR2, TIE2, DDR2, TrkA, Eph2A, RAF-1, BRAF, BRAFV600E, SAPK2, PTK5 và Abl ở nồng độ regorafenib đã đạt được trên lâm sàng. Trong các mô hình in vivo, regorafenib đã chứng minh hoạt động chống hình thành mạch máu trong mô hình khối u ở chuột và ức chế sự phát triển của khối u cũng như hoạt động chống di căn trong một số mô hình ghép dị loại ở chuột bao gồm một số mô hình ung thư biểu mô đại tràng ở người.
3. Liều dùng, cách sử dụng thuốc
3.1. Liều dùng thuốc
Liều khuyến cáo là 160 mg Regorafenib (bốn viên 40 mg) uống một lần mỗi ngày trong 21 ngày đầu tiên của mỗi chu kỳ 28 ngày. Tiếp tục điều trị cho đến khi bệnh tiến triển hoặc độc tính không thể chấp nhận được.
Nếu cần điều chỉnh liều, hãy giảm liều theo mức tăng 40 mg (một viên); liều Regorafenib hàng ngày thấp nhất được khuyến cáo là 80 mg mỗi ngày.
Ngừng thuốc ở các trường hợp:
- Phản ứng da bàn tay-bàn chân cấp độ 2 (HFSR) [hội chứng đỏ da lòng bàn tay-bàn chân (PPES)] tái phát hoặc không cải thiện trong vòng 7 ngày mặc dù đã giảm liều; ngừng điều trị tối thiểu 7 ngày đối với HFSR Cấp độ 3
- Tăng huyết áp Cấp độ 2 có triệu chứng
- Bất kỳ phản ứng bất lợi Cấp độ 3 hoặc 4 nào
- Nhiễm trùng nặng hơn ở bất kỳ cấp độ nào.
3.2. Cách dùng thuốc
Uống thuốc vào cùng một thời điểm mỗi ngày. Nuốt nguyên viên thuốc với nước sau bữa ăn ít chất béo có chứa ít hơn 600 calo và ít hơn 30% chất béo. Không uống hai liều Regocare trong cùng một ngày để bù cho liều đã quên từ ngày hôm trước.
4. Chống chỉ định thuốc
Quá mẫn với bất kì thành phần nào của thuốc.
5. Lưu ý khi sử dụng thuốc Regocare
5.1. Cảnh báo và thận trọng thuốc
Độc tính với gan
Tổn thương gan nghiêm trọng do thuốc gây ra với kết cục tử vong đã xảy ra ở những bệnh nhân được điều trị bằng Regorafenib trong các thử nghiệm lâm sàng. Trong hầu hết các trường hợp, rối loạn chức năng gan xảy ra trong vòng 2 tháng đầu điều trị và được đặc trưng bởi kiểu tổn thương tế bào gan. Trong nghiên cứu CORRECT, suy gan tử vong xảy ra ở 1,6% bệnh nhân trong nhóm regorafenib và ở 0,4% bệnh nhân trong nhóm giả dược. Trong nghiên cứu GRID, suy gan tử vong xảy ra ở 0,8% bệnh nhân trong nhóm regorafenib. Trong nghiên cứu RESORCE, không có sự gia tăng về tỷ lệ suy gan tử vong so với giả dược. Thực hiện xét nghiệm chức năng gan (ALT, AST và bilirubin) trước khi bắt đầu dùng Regorafenib và theo dõi ít nhất hai tuần một lần trong 2 tháng đầu điều trị. Sau đó, theo dõi hàng tháng hoặc thường xuyên hơn theo chỉ định lâm sàng. Theo dõi xét nghiệm chức năng gan hàng tuần ở những bệnh nhân có xét nghiệm chức năng gan tăng cao cho đến khi cải thiện xuống dưới 3 lần ULN hoặc giá trị ban đầu. Tạm thời giữ nguyên rồi giảm hoặc ngừng thuốc Regocare vĩnh viễn tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng và tính dai dẳng của độc tính với gan biểu hiện bằng xét nghiệm chức năng gan tăng cao hoặc hoại tử tế bào gan.
Nhiễm trùng
Regorafenib gây ra nguy cơ nhiễm trùng tăng cao. Tỷ lệ nhiễm trùng chung (Cấp độ 1-5) cao hơn (32% so với 17%) ở 1142 bệnh nhân được điều trị bằng Regorafenib so với nhóm đối chứng trong các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng giả dược. Tỷ lệ nhiễm trùng cấp độ 3 trở lên ở những bệnh nhân được điều trị bằng Regorafenib là 9%. Các bệnh nhiễm trùng phổ biến nhất là nhiễm trùng đường tiết niệu (5,7%), viêm mũi họng (4,0%), nhiễm nấm niêm mạc da và toàn thân (3,3%) và viêm phổi (2,6%). Các kết cục tử vong do nhiễm trùng xảy ra thường xuyên hơn ở những bệnh nhân được điều trị bằng Regorafenib (1,0%) so với những bệnh nhân dùng giả dược (0,3%); nhiễm trùng gây tử vong phổ biến nhất là nhiễm trùng đường hô hấp (0,6% ở những bệnh nhân được điều trị bằng Regorafenib so với 0,2% ở những bệnh nhân dùng giả dược). Ngừng thuốc đối với nhiễm trùng Cấp độ 3 hoặc 4, hoặc nhiễm trùng nặng hơn ở bất kỳ cấp độ nào. Tiếp tục dùng thuốc với liều tương tự sau khi hết nhiễm trùng.
Xuất huyết
Regorafenib làm tăng tỷ lệ xuất huyết. Tỷ lệ chung (Cấp độ 1-5) là 18,2% ở 1142 bệnh nhân được điều trị bằng Regorafenib và 9,5% ở những bệnh nhân dùng giả dược trong các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng giả dược. Tỷ lệ xuất huyết cấp độ 3 trở lên ở những bệnh nhân được điều trị bằng Regorafenib là 3,0%. Tỷ lệ xuất huyết tử vong là 0,7%, liên quan đến hệ thần kinh trung ương hoặc đường hô hấp, đường tiêu hóa hoặc đường tiết niệu sinh dục. Ngừng thuốc vĩnh viễn ở những bệnh nhân bị xuất huyết nghiêm trọng hoặc đe dọa tính mạng. Theo dõi nồng độ INR thường xuyên hơn ở những bệnh nhân dùng warfarin.
Thủng hoặc rò đường tiêu hóa
Thủng đường tiêu hóa xảy ra ở 0,6% trong số 4518 bệnh nhân được điều trị bằng STIVARGA trong tất cả các thử nghiệm lâm sàng về Regorafenib được dùng như một tác nhân đơn lẻ; bao gồm tám trường hợp tử vong. Rò đường tiêu hóa xảy ra ở 0,8% bệnh nhân được điều trị bằng Regorafenib và 0,2% bệnh nhân trong nhóm dùng giả dược trong các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng giả dược. Ngừng RegoCare vĩnh viễn ở những bệnh nhân bị thủng hoặc rò đường tiêu hóa.
Độc tính trên da
Trong các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng giả dược, các phản ứng bất lợi trên da xảy ra ở 71,9% bệnh nhân trong nhóm dùng regorafenib và ở 25,5% bệnh nhân trong nhóm dùng giả dược, bao gồm phản ứng da bàn tay-bàn chân (HFSR) còn được gọi là hội chứng đỏ da lòng bàn tay-bàn chân (PPES) và phát ban nghiêm trọng cần phải điều chỉnh liều. Trong các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng giả dược, tỷ lệ mắc HFSR nói chung cao hơn ở 1142 bệnh nhân được điều trị bằng Regorafenib (53%) so với bệnh nhân được điều trị bằng giả dược (8%). Hầu hết các trường hợp HFSR ở những bệnh nhân được điều trị bằng Regorafenib xuất hiện trong chu kỳ điều trị đầu tiên. Tỷ lệ mắc HFSR cấp độ 3 (16% so với <1%), phát ban cấp độ 3 (3% so với <1%), phản ứng có hại nghiêm trọng của ban đỏ đa dạng (<0,1% so với 0%) và Hội chứng Stevens-Johnson (<0,1% so với 0%) cũng cao hơn ở những bệnh nhân được điều trị bằng Regorafenib. Trong tất cả các thử nghiệm, tỷ lệ mắc HFSR cao hơn đã được quan sát thấy ở những bệnh nhân châu Á được điều trị bằng Regorafenib (tất cả các cấp độ: 72%; Cấp độ 3: 18%). Hoại tử biểu bì nhiễm độc xảy ra ở 0,02% trong số 4518 bệnh nhân được điều trị bằng Regorafenib trong tất cả các thử nghiệm lâm sàng về Regorafenib được dùng như một tác nhân đơn lẻ. Ngừng thuốc, giảm liều hoặc ngừng thuốc RegoCare vĩnh viễn tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng và tính dai dẳng của độc tính trên da.
Tăng huyết áp
Trong các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng giả dược, cơn tăng huyết áp xảy ra ở 0,2% bệnh nhân trong nhóm dùng regorafenib và không có bệnh nhân nào trong nhóm dùng giả dược bị tăng huyết áp. Regorafenib gây ra tỷ lệ tăng huyết áp cao hơn (30% so với 8% trong CORRECT, 59% so với 27% trong GRID và 31% so với 6% trong RESORCE). Tăng huyết áp khởi phát trong chu kỳ điều trị đầu tiên ở hầu hết bệnh nhân bị tăng huyết áp (67% trong các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng giả dược). Không bắt đầu dùng Regorafenib trừ khi huyết áp được kiểm soát đầy đủ. Theo dõi huyết áp hàng tuần trong 6 tuần đầu điều trị và sau đó là mỗi chu kỳ hoặc thường xuyên hơn, tùy theo chỉ định lâm sàng. Tạm thời hoặc vĩnh viễn ngừng dùng thuốc RegoCare đối với tình trạng tăng huyết áp nặng hoặc không kiểm soát được.
Thiếu máu cục bộ cơ tim và nhồi máu cơ tim
Regorafenib làm tăng tỷ lệ thiếu máu cục bộ cơ tim và nhồi máu cơ tim (0,9% so với 0,2%) trong các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng giả dược. Ngừng thuốc ở những bệnh nhân bị thiếu máu cục bộ cơ tim hoặc nhồi máu cơ tim mới hoặc cấp tính. Chỉ tiếp tục sau khi các biến cố thiếu máu cục bộ cơ tim cấp tính đã được giải quyết, nếu lợi ích tiềm năng lớn hơn nguy cơ thiếu máu cục bộ cơ tim tiếp theo.
Hội chứng bệnh não trắng sau hồi phục
Hội chứng bệnh não trắng sau hồi phục (RPLS), một hội chứng phù mạch dưới vỏ não được chẩn đoán bằng phát hiện đặc trưng trên MRI, đã xảy ra ở một trong 4800 bệnh nhân được điều trị bằng Regorafenib trong tất cả các thử nghiệm lâm sàng. Thực hiện đánh giá RPLS ở bất kỳ bệnh nhân nào có biểu hiện co giật, đau đầu dữ dội, rối loạn thị giác, lú lẫn hoặc thay đổi chức năng tâm thần. Ngừng thuốc ở những bệnh nhân bị RPLS.
Nguy cơ làm chậm lành vết thương
Các biến chứng làm chậm lành vết thương có thể xảy ra ở những bệnh nhân dùng thuốc ức chế đường truyền tín hiệu VEGF. Do đó, Regorafenib có khả năng ảnh hưởng xấu đến quá trình lành vết thương. Ngừng dùng thuốc ít nhất 2 tuần trước khi phẫu thuật theo yêu cầu. Không dùng STIVARGA trong ít nhất 2 tuần sau phẫu thuật lớn và cho đến khi vết thương lành hoàn toàn. Tính an toàn của việc tiếp tục dùng RegoCare sau khi giải quyết các biến chứng lành vết thương vẫn chưa được xác định.
5.2. Lưu ý khi dùng cho phụ nữ mang thai và đang cho con bú
Không khuyến cáo sử dụng RegoCare trong thời kỳ mang thai; thuốc có thể gây hại cho thai nhi. Sử dụng biện pháp tránh thai để tránh thai trong khi bạn đang dùng Stivarga, bất kể bạn là nam hay nữ. Hãy báo ngay cho bác sĩ nếu có thai trong khi một trong hai cha mẹ đang dùng Regorafenib.
Tiếp tục sử dụng biện pháp tránh thai trong ít nhất 2 tuần sau khi kết thúc quá trình điều trị bằng RegoCare.
Người ta không biết liệu Regorafenib có đi vào sữa mẹ hay có thể gây hại cho trẻ bú mẹ hay không. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi cho con bú.
5.3. Ảnh hưởng thuốc lên lái xe và vận hành máy móc
Không ảnh hưởng.
5.4. Xử trí khi quá liều
Liều Regorafenib cao nhất được nghiên cứu lâm sàng là 220 mg mỗi ngày. Các phản ứng có hại của thuốc thường gặp nhất ở liều này là các biến cố về da, mất giọng, tiêu chảy, viêm niêm mạc, khô miệng, chán ăn, tăng huyết áp và mệt mỏi. Không có thuốc giải độc nào được biết đến cho tình trạng quá liều Regorafenib. Trong trường hợp nghi ngờ quá liều, hãy ngừng thuốc, tiến hành chăm sóc hỗ trợ và theo dõi cho đến khi tình trạng lâm sàng ổn định.
5.5. Lưu ý khi bảo quản và sử dụng
Bảo quản nhiệt độ dưới 30 độ C, tránh ánh sáng.
Hạn dùng 24 tháng kể từ ngày sản xuất.
6. Tương tác thuốc với Regorafenib
Tác động của chất gây cảm ứng CYP3A4 mạnh lên Regorafenib
- Dùng đồng thời chất gây cảm ứng CYP3A4 mạnh với Regorafenib làm giảm nồng độ regorafenib trong huyết tương, làm tăng nồng độ chất chuyển hóa hoạt động M-5 trong huyết tương và không làm thay đổi nồng độ chất chuyển hóa hoạt động M-2 trong huyết tương và có thể làm giảm hiệu quả. Tránh dùng đồng thời RegoCare với chất gây cảm ứng CYP3A4 mạnh (ví dụ như rifampin, phenytoin, carbamazepine, phenobarbital và St. John’s Wort).
Tác động của chất ức chế CYP3A4 mạnh lên Regorafenib
- Dùng đồng thời chất ức chế CYP3A4 mạnh với Regorafenib làm tăng nồng độ regorafenib trong huyết tương và làm giảm nồng độ chất chuyển hóa hoạt động M-2 và M-5 trong huyết tương và có thể làm tăng độc tính. Tránh dùng đồng thời RegoCare với các chất ức chế CYP3A4 mạnh (ví dụ như clarithromycin, nước ép bưởi, itraconazole, ketoconazole, nefazodone, posaconazole, telithromycin và voriconazole).
Tác dụng của Regorafenib đối với các chất nền protein kháng ung thư vú (BCRP)
- Việc dùng đồng thời Regorafenib với chất nền BCRP làm tăng nồng độ chất nền BCRP trong huyết tương. Theo dõi chặt chẽ bệnh nhân về các dấu hiệu và triệu chứng của tình trạng độc tính liên quan đến phơi nhiễm với chất nền BCRP (ví dụ như methotrexate, fluvastatin, atorvastatin). Tham khảo thông tin sản phẩm chất nền BCRP dùng đồng thời khi cân nhắc dùng các sản phẩm như vậy cùng với RegoCare.
7. Tác dụng phụ khi sử dụng thuốc RegoCare
Tác dụng phụ thường gặp khi dùng thuốc RegoCare bao gồm:
- yếu/mệt mỏi,
- chán ăn và giảm lượng thức ăn nạp vào,
- phản ứng da tay-chân (HFSR),
- tiêu chảy,
- đau dạ dày,
- giảm cân,
- nhiễm trùng,
- huyết áp cao (tăng huyết áp),
- yếu,
- mệt mỏi,
- giọng nói thay đổi hoặc khàn tiếng, và
- sưng, đau và đỏ niêm mạc miệng, cổ họng, dạ dày và ruột.
8. Thuốc có thể dùng thay thế
9. Thuốc Regocare mua ở đâu giá bao nhiêu?
Liên hệ 0969870429 để được tư vấn và mua hàng.
Tài liệu tham khảo:

